10:29 Thứ tư, 16/10/2019

Trang nhất » Tin Tức » Sắc màu quê hương » Văn xuôi

TÌM VỀ CÕI THIÊNG

Thứ năm - 22/03/2012 08:18
         Cam Tuyền là suối ngọt ! Không biết đúng hay sai về ngữ nghĩa của địa danh này, nhưng lâu nay nhiều người vẫn nói thế, thành ra nghe cũng thuận tai. Một khi ai đã đến nơi này, nhìn vào địa cuộc của Cam Tuyền, hòa mình với cuộc sống của làng quê miền trung du - đồi núi mới cảm nhận được vị ngọt của suối sông và khí thiêng của núi non kết tụ qua trường kỳ lịch sử.
         Cam Tuyền là một xã của huyện Cam Lộ, nằm bên bờ bắc sông Hiếu (phía đầu nguồn), diện tích tự nhiên hơn 10.000 ha, chiếm 30% diện tích toàn huyện, dân số gần 5.500 người, gồm 12 thôn, bản. Cũng như các địa phương khác của huyện, Cam Tuyền đã đi qua nhiều bước thăng trầm trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển. Mảnh đất này là chiến trường khốc liệt của nhiều cuộc kháng chiến kéo dài và cũng là nơi phải đương đầu với thiên tai nghiệt ngã hàng năm. Máu xương và mồ hôi, nước mắt đã thấm đẫm đất này. Nơi mỗi ruộng đồng, gốc cây, bến nước đều mang vết tích thương đau và ghi dấu sự kiện anh hùng. Nơi mỗi tấm lòng đều chân chất, bình dị mà bất khuất, kiên trung...
         Những năm tháng chiến tranh, làng quê của Cam Tuyền là vành đai trắng, chồng chất lên mỗi gia đình nổi khổ áo cơm cùng với tội ác của đạn bom. Dẫu thế, nước ngọt, đất lành cứ nuôi đời khôn lớn. Ai xa quê cũng thao thiết tìm về !
Hai lần lên đỉnh 544, tôi có hai cảm xúc khác nhau. Lần đầu lên đó với ý nghĩ để nhìn rõ quê hương sau chiến tranh. Một vùng trung du - đồi núi đổ nát, hoang tàn, đất trống, đồi trọc, dày đặc hố pháo, hầm bom. Những cây gõ, cây lim, ten, tuồng, dổi, dạ... đã rụi nhánh, tiêu cành trơ trọi đứng giữa đất trời; những cây trâm, vang, sến, ngấn...nằm mục nát bên mép đồi, bờ suối do chất độc khai quang của quân đội Mỹ rãi thảm cuối những năm 60 của thế kỷ XX. Nhìn về xuôi, những mái nhà tranh, tre, nứa, lá hun hút trong chiều, ngó lên những dãy núi đá vôi loang lở, khô khốc, thấp thoáng những đoàn người đi tìm nhặt phế liệu chiến tranh mà lòng cứ bời bời xa xót.
        Lần thứ hai lên lại, sau ngày huyện Cam Lộ được tái lập, núi rừng đã bắt đầu hồi sinh, màu xanh thắm tươi rộng mở. Đêm ngủ lại trên đỉnh Fuller (544), nơi mà quân đội Mỹ đã xây dựng căn cứ quân sự, lắp đặt ba giàn rađa chọn làm trung tâm xử lý tư liệu của "con mắt thần" hàng rào điện tử Mc.Namara. Đêm giữa mùa thu, trời lành lạnh, gió thổi nhiều, tôi ít ngủ, một phần vì quá vui với Đoàn cựu chiến binh thăm lại chiến trường xưa, phần khác nghĩ về Lèn Đôi, Lèn Ba, Lèn Dài (Lèn 4)...một quần thể đá vôi xanh xám với những hang động mà lớp lớp con người đã chọn chốn đi về, là nơi che chở bao cuộc đời; nghĩ về Khe Gió, Khe Chùa, Khe Đá Mài...là những phụ lưu đầy lãng mạn, đầy chất thơ của dòng sông Hiếu ngọt lành, tươi mát, xanh trong.
       Đêm hoài niệm của những người lính một thời xông pha trận mạc và đêm tơ tưởng của chúng tôi về một không gian trầm mặc, phảng phất hồn thiêng của kiếp người tiền sử, sâu lắng anh linh của cha ông đi mở cõi và những dặm dài để giành lại Tổ quốc, non sông.
       Dấu vết văn hóa của người nguyên thuỷ trên mảnh đất này còn lưu lại trong những di chỉ Hang Dơi - Lèn 4 và các mái đá Lèn 3. "Hang Dơi nằm ở vị trí như mắt rồng. Cửa hang cao hơn mặt đất chừng 70m, quay về hướng đông nam, rộng 4,67m, cao từ 8 - 10m, vòm hang có chiều sâu chiếu sáng 17,5m, nơi rộng nhất của vòm hang là 13m, có những ngách hang rộng ăn sâu vào lòng núi và một cửa thông hơi gọi là Cửa Trời"(1). Tại đây, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những công cụ bằng đá được ghè đẽo thô ở rìa cạnh và một đầu để sử dụng, một số dụng cụ bằng xương, mảnh gốm, rìu có vai, vỏ ốc núi, ốc suối...chứng tỏ Hang Dơi được người nguyên thuỷ cư trú lâu dài. "Niên đại Hang Dơi được xếp vào khung niên đại văn hóa Hoà Bình sớm, cách ngày nay từ 1,5 đến 2 vạn năm"(2).
Cạnh Hang Dơi có hang: "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Bên trong các hang động từng là nơi trú ẩn và đóng quân của một tiểu đoàn trinh sát thuộc Mặt trận B5. Các chiến sĩ trinh sát đã kiểm soát các hoạt động của đối phương trên Quốc lộ 9 và tổ chức các trận đánh tiêu diệt địch, góp phần làm nên những thắng lợi của cuộc tấn công năm 1972, giải phóng hoàn toàn huyện Cam Lộ.
       Khu vực này, cuối năm 1966, quân đội Mỹ đã xây dựng căn cứ chiến đấu và gọi tên là "The Rockpile", bao gồm: Lèn Dài (Lèn 4), Lèn Đôi cao 150m, Lèn Ba (Rockpile trung tâm) cao 230m. Từ trên cao nhìn xuống, căn cứ này nằm giữa thung lung hẹp (khoảng chừng 4 - 5 kilômet vuông), phạm vi từ Km 28 đến Km 30 - Quốc lộ 9, là khu vực của hai con sông Trinh Hinh và sông Làng Cát nối nghĩa ân tình, hợp lưu thành con sông Cam Lộ (Hiếu Giang). Dưới chân Lèn Ba là những hầm hào, công sự kiên cố, 4 bộ pháo tự hành trên xe xích "vua chiến trường" 175mm được bố trí tại trận địa này. Lên xuống Lèn Ba phải leo trèo rất khó khăn, trên đỉnh có lô cốt và tháp canh được ghép bằng những tấm kim loại dày sơn màu xanh lá cây, đỉnh núi lô nhô những phiến đá vôi nhưng có một khoảng tương đối phẳng rộng khoảng 25 - 30 mét vuông chỉ đủ cho đuôi máy bay CH-46 hạ đáp để tiếp vận quân trang, quân dụng và khí tài cho lính Mỹ đóng trên đỉnh núi này.
      Từ điểm cao 544, nhìn về Cửa Việt, Cửa Tùng, dải cát trắng mờ xa với màu xanh thẳm của Biển Đông, ngó lên biên ải Trường Sơn điệp trùng một màu tím thẩm, hướng qua nam, quay sang bắc, rồi để những thời khắc xao xuyến với Lèn Đôi, Lèn Ba, Lèn Con Rồng, cùng các hang động hoang hoải nhạt nhòa, tôi cảm thấy mình như đang đứng bên tâm điểm của đất mẹ thân thương. Lòng cứ bâng khuâng, mê mãi mà nghĩ rằng: Hình thế núi sông sau trước"hổ phục, rồng chầu", "quần sơn tọa thủ"... những sự tích xa xưa có ai còn nhớ và khuôn diện hôm nay ai đã xót lòng ?
Cầm trên tay hay ngắm nhìn di duệ của người xưa và đắm mình trước cảnh vật mà núi dựng, sông tuôn, hào hiệp, uy phong do đất trời kiến tạo, ban tặng cho con người, chúng ta không chỉ biết quý trọng và giữ gìn, biết khai thác hợp lý về mặt kinh tế mà cần khơi dậy mạch nguồn văn hóa dù phải đương đầu với bao gian khó.
       Quê hương ơi ! Tôi đã lắm lúc đi ngược, về xuôi, trải qua tháng rộng năm dài, biết bao buồn vui, nhưng chưa bao giờ rứt ra khỏi bóng dáng quê hương. Đôộng Ná (544) vẫn còn kia, dẫu đỉnh đã vơi mòn, nhưng phần phong linh khí vẫn y nguyên, cây trâm ná cứ nối đời mãi miết lên xanh, cho ta những náng cày, những bộ răng bừa bền chắc, loại nông cụ không thể thiếu của bà con Cam Phú, Quật xá, Đâu Bình, An Thái, An Mỹ, Ba Thung...
Lời ca dao hay câu hát của những thiếu phụ Cam Tuyền tự đặt ra, mà mẹ tôi ru hời ru hỡi năm nào vẫn còn lay động trong tôi :
                        Ngó lên Đôộng Ná mà đau
     Cày bừa mối mọt, ruộng trâu não nề
Bóng người khuất nẻo sơn khê
               Để em hôm sớm tái tê phận đời
Lên lèn, xuống hác tìm người
               Người đâu khôông chộ, chộ trời đổ mưa...
        Đời sống văn hóa, tinh thần nói chung của cư dân Cam Tuyền cũng giống như bao làng quê khác của huyện Cam Lộ, nhưng xét về đời sống tâm linh có những nét riêng mà đời nối đời vẫn gìn giữ và làm theo.
Trong đời sống của con người, xét cả hai phương diện là cá nhân và cộng đồng, ngoài mặt hiện hữu còn có mặt tâm linh. Mặt hiện hữu có thể nhìn ngắm, nắm bắt được, có thể đánh giá, xác định cụ thể, còn về mặt tâm linh thì quá mông lung, trừu tượng nhưng lại không thể thiếu trong tâm khảm của con người.
        Đời sống tâm linh luôn tuân theo những giá trị bắt nguồn từ cái bí ẩn, cái thiêng liêng cao cả. Những giá trị tâm linh ấy là căn cơ của văn hóa gia đình và mối quan hệ cộng đồng làng xã.
Chúng ta biết, ngay từ buổi bình minh của loài người, để sinh tồn vừa phải lao động để có ăn, vừa phải chăm lo đến cái ở. Đó có thể là những hang đá, những tùp lều giản đơn bằng cây, lá, da thú...Khi xã hội phát triển thì làm những ngôi nhà bằng gỗ, bằng bê tông cốt thép, vật liệu tổng hợp...Chức năng của ngôi nhà là nơi cư trú đồng thời là không gian sinh hoạt kinh tế, văn hóa của con người.
        Ở Cam Tuyền, đại bộ phận dân cư đều làm nhà ba gian hướng về phía đông nam. Chuối trồng sau, cau trồng trước, hai bên tả hữu có cây mít, cây mảng cầu, vài ba cây bưởi, cây chanh...bốn mùa hương hoa quyện tỏa, xóm dưới làng trên tinh không thơm ngát, êm đềm. Trước nhà, giàu hay nghèo cũng đặt vài viên nham thạch rồi trồng cây sanh, cây si cho thêm chút yên bình, tĩnh lặng.
        Gian giữa của nhà là gian rất quan trọng, bàn thờ gia tiên được đặt ở phía trong gian giữa, dân địa phương gọi là "căn bảy". Các chị, các bà không dám "ngồi chơi, xơi nước" hoặc to tiếng trước "căn bảy", bởi đó là nơi thiêng liêng, trân trọng nhất trong mỗi gia đình.
        Việc tế tự đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên đến cầu cúng ở làng, dâng lễ phẩm với gia thần, gia tiên hay Thành hoàng bắt nguồn từ niềm tin, ngưỡng mộ, thành kính. Lòng thành kính thể hiện ở lễ phẩm tinh khiết - lễ bạc lòng thành. Văn lễ thường dùng từ ngữ cầu kỳ như gà gọi là "hàn âm", lợn cả con gọi là "cương lạp", thịt lợn rời gọi là "trư nhục", xôi "tư thành", trầu cau "phù lưu", cổ bàn các thứ gọi là "diêu soạn thứ tu"... Nhiều người cho rằng "Ngũ tự gia thần" là rất linh thiêng, nhưng cách thờ mỗi nhà mỗi khác. Nhà thì thờ chung gia thần và gia tiên, nhà thì nơi bàn thờ gia tiên phía trong cùng đóng bậc cao hơn để thờ "Tiên Sư" (Thần quản về nghề nghiệp, làm ăn), nhà thì đặt lư hương trên đầu bếp để thờ Táo Quân. Rất nhiều gia đình có am thờ tiên chủ đặt ở sân vườn, vào những ngày lễ tết đều có lễ vật dâng cúng, tỏ ý biết ơn những tiên chủ đã khai phá mảnh đất mà gia đình đang ở.
        Với quan niệm: Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá, cảnh thổ thì có Thần hoàng (Thần Thành hoàng), vì vậy các làng đều thờ nhiều vị Thành hoàng cả nhân thần và nhiên thần. Hơn nữa, dân cư đều sinh sống ven sông suối, cận chân đồi nên nhiều làng biện lễ trang trọng để cầu an và bái tạ núi sông vào dịp đầu năm và cuối năm. Bàn lễ cúng tôn thần đều hướng về phía thượng nguồn, nơi non cao, nơi sinh ra con suối, con sông, coi đó là cặp đôi sông núi thiêng liêng mà mọi người phải tưởng vọng, cầu mong chứng giám lòng thành.
        Làng tôi - Ba Thung, một trong những làng sinh sống lâu đời của Cam Tuyền, ngày xưa làng tọa lạc ở thung lũng có các núi đã vôi: Lèn 3 (Rockpile), Lèn 4 (Lèn Con Rồng), trước mặt là con đường thượng đạo (Quốc lộ 9), sông Trinh Hinh chảy qua làng, phía bắc có sông Làng Cát vây bọc, suối Khe Van khi tới đầu làng lại uốn ngược lên phía tây mới đổ ra sông. Theo văn tế đang lưu truyền và những người cao niên trong làng kể lại: Các bậc tiên linh của làng có gốc gác là dân kẻ chợ ở miền Bắc theo nhau vào miền "Ô Châu ác địa" để khai khẩn điền viên, bán buôn xuôi ngược, tạo lập cộng đồng, dựng xây cơ nghiệp và tụ cư ở Phường Cây Mít (Phường Ba Thung) bao gồm thôn Khe Van và thôn Hà Bạc, xã Hướng Hiệp, huyện Đakrông ngày nay. Về sau, đại bộ phận con dân của làng chuyển về bờ bắc sông Hiếu mua lại phần đất Thượng Độ và khai phá thêm nhiều ruộng đồng, đồi, bãi... quy tụ thêm một số họ tộc cùng chung sống cho đến hôm nay.
        Hoàng Việt nhất thống địa dư chí - Lê Quang Định đã viết : "...đến phường Ba Trăng, phía bắc có đất khô, dân cư ở gần sông, phía nam thì núi non liền nhau. Ở xứ này có ba động đá: Động bên trái của phía đông đường đi, cao và nhọn hoắt, tục gọi là Động Miệt; động bên phải ở phía tây của sông, thế núi cao vút, ở trên địa phận phường Ba Thung nên tục gọi là động Ba Thung, hai động này ở hai bên tả hữu đối diện nhau; một động khác đứng giữa, ngay trước mặt hai động kia, phụ lão ở đây truyền rằng, thời tiên triều có lần ngự giá qua đây, cho mời các phụ lão trong vùng đến và hỏi rằng: Trong ba ngọn núi kia thì ngọn nào làm chủ, các người có biết không? Có phụ lão tâu rằng: Ngu dân là kẻ man mọi không biết, cứ thiển ý mà nghĩ ngọn nào cao thì làm chủ, ngọn thấp thì làm thần. Tiên triều phán rằng: Không hẳn thế, núi thấp mà ở giữa rất ngay ngắn, đứng phía bắc mà trông vào hướng nam, hai bên đều có núi cao làm tả hữu, ấy là cái thế "chủ ngồi tôi đứng" vậy, đương nhiên là ngọn giữa làm chủ rồi. Từ đó ngọn núi mà tục gọi là Tam Thai ấy được gọi là Động Chủ (Chúa). Phía nam đường đi có ngôi miếu cổ thờ Quế Nương Ngọc Nữ phu nhân. Tục truyền phu nhân là người phường Ba Trăng, họ Hồ, nhũ danh là Thị Chữ, thời con gái chẳng lo làm ăn, chỉ thích hương hoa trang sức, chừng mười bảy tuổi, có nhiều người cầu hôn nhưng đều không bằng lòng, rồi một hôm một mình đi lên đỉnh núi, mọi người gọi cũng chẳng quay lại, cứ đi thẳng vào trong núi rồi chẳng biết đến đâu, người nhà vào núi tìm thì thấy trên núi có một giếng đá sâu như không có đáy, chỉ thấy áo quần của cô để lại bên bờ giếng, họ đau đớn kêu gào mà chẳng thấy bóng dáng ở đâu, bèn quay về. Về sau nhập đồng xưng là Quế Nương Ngọc Nữ phu nhân, dân trong phường lập miếu thờ phụng, rất linh ứng, ngày nay khách buôn bán vãng lai thường đến đây cầu đảo".
Tìm hiểu diên cách của huyện Thành Hóa do Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép và "Hoàng Việt nhất thống địa dư chí" mô tả, chúng tôi nghĩ rằng: Núi Tam Thai hay Động Chủ có thể là Lèn 3 (cụ Nguyễn Công Đoàn ở thôn Cam Phú 1, xã Cam Thành cũng đã nói: Ngày xưa, dân địa phương thường gọi Lèn 3 là Lèn Ba Thung).
Từ buổi sơ khai cũng như hiện tại, làng ở vào địa thế "rừng thiêng" nên theo lệ: Đầu năm vào ngày 7 tháng Giêng (âm lịch), làng tổ chức Lễ khai hạ (hạ Nêu - mở cửa rừng) để dân làng được phép vào rừng kiếm kế sinh nhai, khai thác vật dụng. Cuối năm vào ngày 25 tháng Chạp (âm lịch), làng tiến hành cúng tế tất niên cả làng (Lễ thượng Nêu - đóng cửa truông), không ai được vào rừng, tránh nguy nan, hiểm họa. Nhà nào cũng sắm lễ vật, đa thiểu tùy gia, đem đến đình, miếu để cúng chung, cùng tạ ơn linh sơn bổn địa, liệt vị tôn thần.
      Rằm tháng Ba, trong dịp tiết Thanh minh, hoặc "Xuân, Thu nhị kỳ", ở Cam Tuyền, làng nào cũng cúng lễ và tảo mộ âm hồn cho những kẻ yểu vong, những người mỏng số, mồ chôn vô chủ, lạt khói phai hương...
      Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những địa danh: Trằm Sắn - Bái Sơn, Cây Trai - Cây Trổ, Sáp Đá Mài - Tân Kim, Rockpile, Fuller, đồi Không Tên, Hồ Khê - Đá Bạc, Ba De - Cu Đinh, bến đò Ba Thung, cầu Cây Dâu Đâu Bình...là những nơi diễn ra nhiều trận đánh ác liệt, súng nổ vang trời, bom rung chuyển đất, biết bao người con của mọi miền Tổ quốc đã nằm xuống đất này mà hương hồn chưa về quê mẹ, biết bao oan hồn của kẻ xâm lược, tay sai đã tử trận còn vưỡng vất nơi đây. Khi Tết đến, Xuân về, bà con Cam Tuyền soạn thêm mâm cổ có đủ lễ vật đặt giữa sân nhà để bái lạy tri ân những người hy sinh máu xương cho quê hương đất nước, nhưng cũng đồng thời rộng lòng tha thứ cho kẻ bạo tàn, mời tất cả vong hồn thượng hưởng.
       Quê hương nay chừ đã khởi sắc, đang bước tiếp chặng đường đổi mới và phát triển. Phía trước vẫn còn vô vàn gian khó nhưng sẽ vượt qua và gặt hái thắng lợi hơn nữa. Tấm lòng của chúng ta như đầu nguồn sông Hiếu vẫn mãi xanh trong, chảy về xuôi không chỉ êm đềm mà lặng lẽ mang theo cả tình sâu, nghĩa nặng. Dẫu có chỗ lở, chỗ bồi cũng bởi vết xước của thời gian.
       Cây có cội gốc, nước có mạch nguồn là lẽ tự nhiên. Đối với con người cũng là lẽ đương nhiên trên cả hai phương diện: Sự sinh tồn và sự hướng thượng của hồi ức tâm linh. Mỗi khi để tâm vào cương vực của quê hương, nhìn vào địa đồ, sông suối gắn liền với núi rừng, bỗng dưng ta nhớ những lúc đi trong rừng già, cây cối hoang sơ xanh thắm, tiếng chim chuyền cành bên con suối, dòng khe, rồi những khi phơi mình trên các tảng đá sông quê, nghe nước rì rào mà tâm hồn ta an nhiên, trong sáng.
        Mỗi lần thắp nén hương lên bàn thờ, lên từng phần mộ người thân, ký ức ngày xưa lại trào dâng...Theo bước chân cha để nghe chiêng trống hội làng lúc trời chưa rạng, xế trưa còn lần theo bóng mẹ mong được chút hàng chợ Phiên. Chiếc quạt mo mùa hạ, tấm chiếu lác mùa đông, những thèm khát ngày xuân và náo nức thu về mỗi độ, cứ đau đáu lòng ta.
        Và, những khi trăn trở với đời lại tìm về cõi tâm linh để xua xóa muộn phiền, vơi bớt ưu tư, vươn tới cái tốt đẹp của cuộc người, đó là nét văn hóa mà ông cha truyền lại - Văn hóa tâm linh đã dạy ta bài học lớn để vào đời .
                                                           Cam Tuyền, tháng 10/2011
(1) Di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Quảng Trị
(2) Lịch sử Đảng bộ huyện Cam Lộ ( 1930 - 2000 )

Tác giả bài viết: Nguyễn Thanh Ngãi

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Hình ảnh về Cam Lộ


Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về Cam Lộ

Qua Báo chí

Qua Truyền hình

Qua Internet

Phương tiện khác